Cái Giá Của Sự Khinh Thường
Chương 9
14
Một thời gian sau, có tối mẹ tôi đã ngủ, tôi ngồi ngoài ban công thì nhận được tin nhắn từ số lạ, người gửi tự xưng là Viễn Châu, nói đổi số sợ tôi không nghe máy, chỉ muốn hỏi một câu cuối cùng.
“Rõ ràng mẹ em có tiền có nhà, tại sao lại ăn mặc như vậy khi đến nhà anh, tại sao từ đầu đến cuối đều không nói, nếu bà nói thì chúng ta sẽ không…”
Tin nhắn dừng giữa chừng, nhưng tôi biết anh ta muốn nói nếu nói sớm thì họ đã không đối xử như vậy, tôi nhìn dòng chữ dang dở rồi cười nhẹ.
Tôi trả lời rằng mẹ tôi mặc đồ 20 tệ đến nhà anh là vì nghĩ mình đến giúp con gái, không phải đến làm khách, không nói mình có tiền vì nghĩ dù giàu hay nghèo thì nhà chồng con gái cũng phải tôn trọng mình.
Tôi viết tiếp rằng bà không đòi hỏi đãi ngộ gì, chỉ cần được đối xử như một con người bình thường, nhưng ngay cả điều đó họ cũng không làm được.
Cuối cùng tôi nhắn thêm rằng không phải bà nên nói sớm hơn, mà là họ nên học cách làm người sớm hơn, rồi gửi thêm một câu cuối rằng giọng quê của mẹ tôi, anh ta không xứng nghe.
Gửi xong, tôi chặn số, xóa liên lạc, gió đêm thổi vào mang theo mùi quen thuộc của khu phố cũ, tiếng xào nấu đồ ăn đêm, tiếng cửa sắt đóng lại, và tiếng bà cụ nhà bên gọi cháu bằng giọng quê.
Tôi nhắm mắt lại, từ giờ trở đi mẹ tôi muốn nói gì thì nói, muốn mặc gì thì mặc, muốn đi đâu trong khu cũng được, không cần cúi đầu, không cần im lặng, không cần giả vờ mình không là gì cả.
15
Nửa năm sau, Tiểu Niên tròn hai tuổi, hôm sinh nhật tôi bày một bàn ăn ở nhà, toàn là món mẹ tôi nấu như thịt kho, cánh gà coca, cá hấp, và bát mì cán tay mà tôi luôn nhớ.
Hàng xóm cũ đều đến, phòng khách nhỏ chật kín người, người lớn trò chuyện, trẻ con chạy nhảy, tất cả đều nói giọng quê, Tiểu Niên đứng giữa phòng, mặt dính kem bánh, cười toe toét.
“Ngoại ơi, bánh ngon.”
Mẹ tôi ngồi xuống lau miệng cho thằng bé, vừa cười vừa mắng yêu, nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra rất rõ, ông lão hàng xóm còn trêu Tiểu Niên bảo nói gì với ngoại nghe xem.
Tiểu Niên ngẩng đầu, giọng non nớt nói bằng giọng quê rằng “ngoại là nhất”, cả căn phòng bật cười vỗ tay, còn mẹ tôi cười đến cong người, mắt sáng lấp lánh.
Cả căn phòng đầy ắp tiếng giọng quê, đầy ắp tiếng cười, không một ai cảm thấy điều đó là mất mặt.
Tôi tựa vào khung cửa, nhìn khung cảnh ấm áp trước mắt, thứ mà người ta gọi là cuộc sống, là bình yên rất đỗi giản dị.
Bố tôi mất sớm, mẹ một mình nuôi tôi khôn lớn, sau này khu phố cũ giải tỏa, bà được chia ba căn nhà cùng một khoản tiền bồi thường đủ để sống thoải mái cả đời.
Nhưng bà lại chọn đến nhà chồng tôi, chỉ vì sợ tôi một mình không xoay xở nổi việc chăm con.
Bà mặc áo vải 20 tệ, mang theo cả gia sản hàng triệu, ngủ trong phòng chứa đồ, rửa bát bằng nước lạnh, ăn cơm trắng với dưa muối suốt hai năm.
Hai năm đó, bà chưa từng than khổ một câu, không phải vì không có đường lui, mà vì không nỡ rời xa tôi.
Bây giờ, bà đã trở về đúng nơi thuộc về mình, nói giọng của mình, sống cuộc đời của mình, được người xung quanh tôn trọng, nhớ đến và đối xử tử tế.
Tôi nâng ly lên, giọng nhẹ nhưng rõ ràng.
“Chúc Tiểu Niên hai tuổi vui vẻ.”
Rồi tôi nhìn mẹ, chậm rãi nói tiếp.
“Cũng chúc mẹ… từ nay về sau, mỗi ngày đều vui như hôm nay.”
Mẹ tôi cầm ly, cười đến cong cả mắt, nhẹ nhàng chạm ly với tôi, phát ra một tiếng “ting” trong trẻo.
Ngoài cửa sổ, tòa nhà trường thực nghiệm đứng lặng lẽ, ba năm nữa Tiểu Niên sẽ đeo cặp, bước qua cánh cổng đó.
Dùng chính cái “địa chỉ quê” mà người ta từng coi thường, dùng chính thân phận “người bản địa” mà họ từng chê bai, dùng con đường mà mẹ tôi âm thầm chuẩn bị từ lâu, không nói, không tranh, nhưng chưa từng bỏ mặc chúng tôi.
Tất cả những điều đó, Phương Viễn Châu có quỳ xuống cầu xin cũng không thể có được nữa.
Anh ta từng cách nó chỉ một khoảng rất nhỏ, chỉ cần hai chữ “tôn trọng”, nhưng anh ta đã không bước qua.
Vậy thì cả đời này, cũng đừng bước qua nữa.
Hết.