Sau Đêm Không Người Đáp
Chương 22
Thẩm Hoài An đưa lại cốc trà còn ấm.
“Muốn ăn gì?
Bác bảo bữa trưa ở nhà đã chuẩn bị xong.”
Tôi nắm tay anh.
“Về nhà ăn.”
28
Tôi chuyển một phần công việc về Vân Thành, nhưng vẫn giữ vai trò ở Mộc Sinh.
Đường Ninh cằn nhằn việc tôi mở thêm điểm làm việc, sau đó là người đầu tiên gửi bản kế hoạch vận hành. Chúng tôi thuê một căn phòng trên phố cách cửa hàng sách không xa, tuyển hai bạn trẻ và bắt đầu nhận những dự án nhỏ hơn.
Không phải dự án nào cũng thành công. Có khách chỉ muốn giữ mặt tiền cho đẹp nhưng phá hết bên trong, chúng tôi không thống nhất được nên dừng. Có công trình phải sửa lại phương án vì dự toán vượt khả năng của chủ nhà. Cũng có những tháng tôi căng thẳng vì dòng tiền, ngồi cùng kế toán đến khuya.
Thẩm Hoài An không biến thành người giải quyết mọi việc.
Anh có công việc riêng, có những chuyến đi kéo dài, có lúc mệt đến mức về chỉ muốn ngồi yên. Chúng tôi vẫn cãi nhau. Có lần vì anh nghĩ tôi làm việc quá sức, nói bằng giọng như đang ra lệnh, tôi lập tức giận.
Sau đó anh xin lỗi vì cách nói, còn tôi thừa nhận mình đã bỏ qua bữa tối ba ngày liền.
Chúng tôi sửa từng chút.
Yêu một người lần nữa không khiến tôi trở thành phiên bản không còn tổn thương. Tôi chỉ dần biết mình có thể nói trước khi im lặng biến thành một bức tường.
Một năm rưỡi sau buổi hẹn ở tiệm hoành thánh, Hoài An hỏi tôi có muốn cùng anh nghĩ về chuyện kết hôn không.
Anh hỏi khi chúng tôi đang rửa bát ở nhà mẹ, trên tay còn đầy bọt.
Tôi quay sang, suýt làm rơi chiếc đĩa.
“Anh chọn thời điểm giỏi thật.”
Anh nhận chiếc đĩa, đặt vào giá.
“Anh có nghĩ vài cách khác.
Nhưng nếu làm trước mặt nhiều người, em có thể khó trả lời.”
Tôi nhìn bọt xà phòng trên cổ tay anh, bật cười rồi lại im lặng.
Anh không thúc.
Chúng tôi nói về chỗ ở, công việc, việc chăm sóc hai bên gia đình và những điều mỗi người cần khi cãi nhau. Nói cả chuyện con cái, những nỗi sợ tôi còn giữ và việc không ai được tự quyết định thay người kia.
Không có câu trả lời nào hoàn hảo trong một buổi tối.
Chúng tôi nói tiếp qua nhiều ngày.
Đến cuối tháng, tôi chủ động đưa cho anh một danh sách dài hai trang.
Anh nhìn tiêu đề, nhướng mày.
“Những việc cần thống nhất trước khi cưới?”
“Anh có thể thêm.”
Anh đọc hết, lấy bút viết ở dòng cuối:
“Có chuyện quan trọng thì nói rõ, không bắt người kia đoán để chứng minh tình yêu.”
Tôi nhìn nét chữ ấy, gật đầu.
“Được.”
Anh mở ngăn kéo, lấy ra chiếc hộp nhẫn đã chuẩn bị.
Không có viên đá lớn. Là một chiếc nhẫn trơn, mặt trong khắc ngày chúng tôi đi bộ bên sông.
Anh hỏi:
“Vậy Cố Dao, em có muốn lấy anh không?”
Tôi nhìn anh rất lâu.
Lần này tôi không nhận lời vì nghĩ mình đã theo đuổi một người quá lâu, cuối cùng nên chọn người theo đuổi mình. Cũng không vì sợ bỏ lỡ một người tốt.
Tôi muốn cùng người trước mặt ăn cơm, làm việc, già đi. Muốn lúc có chuyện vui được kể anh nghe, lúc bất đồng vẫn có thể ngồi xuống nói tiếp.
“Có.”
Tôi đưa tay ra.
Anh đeo nhẫn, rồi cúi xuống hôn trán tôi.
Đám cưới tổ chức ở sân nhà sách, vào một buổi chiều cuối thu. Chúng tôi xin phép và thuê địa điểm như mọi người khác, không lấy danh nghĩa người thiết kế để bỏ qua quy định.
Khách không đông. Mẹ tôi ngồi cạnh mẹ Hoài An, hai người từ chỗ khách sáo đã chuyển sang bàn xem món cá có hơi mặn không.
Đường Ninh phụ trách giữ bó hoa, Lâm Chi cầm điện thoại chụp không ngừng.
Khi đọc lời hứa, Hoài An không nói anh sẽ không bao giờ làm tôi khóc.
Anh nói:
“Anh sẽ cố hiểu em, nói thật với em, và chịu trách nhiệm cho những điều mình làm.
Nếu có điều gì anh chưa biết cách, anh sẽ học cùng em.”
Đến lượt tôi, tôi nhìn người đàn ông đang đợi, lòng yên tĩnh lạ thường.
“Em muốn sống cùng anh.
Những ngày dễ chịu và cả những ngày phải cố gắng.”
Chỉ vậy thôi.
Gió lay tán long não. Một chiếc lá rơi xuống vai áo anh, giống buổi chiều tôi từng không dám chạm tay.
Lần này, tôi đưa tay nhặt xuống.
Rồi đứng nhón chân, chủ động hôn anh trước tiếng cười của những người thân.
29
Năm năm sau ngày rời Giang Thành, tôi trở lại đó nhận một giải thưởng chuyên môn cùng nhóm Mộc Sinh.
Người đứng trên sân khấu là Đường Ninh và tôi. Bên dưới, các đồng nghiệp giơ điện thoại, cười đến mức tôi phải nhắc họ đừng chỉ chụp những góc kỳ quặc.
Sau buổi lễ, tôi gặp Phó Duy ở sảnh.
Anh hỏi thăm, nói tôi trông rất khỏe. Khi nhắc đến Hạ Minh Xuyên, anh ngập ngừng, như không biết có nên nói tiếp.
Tôi chỉ đáp:
“Mong anh ấy sống có trách nhiệm với chính mình.”
Tôi không hỏi đã yêu ai chưa, có còn hối hận không.
Những câu hỏi ấy không còn là phần tôi cần biết để kết thúc một ngày.
Trên đường ra sân bay, trời đổ mưa. Tài xế hỏi có cần dừng mua ô không, tôi nói trong túi đã có.
Tôi vẫn có những lúc giật mình vì tiếng mưa giữa đêm. Thỉnh thoảng một hình ảnh cũ trở lại, khiến tôi buồn đến mức phải ngồi yên một lúc. Nhưng những lần ấy thưa hơn, và tôi đã biết tìm người để nói thay vì tự nhốt mình.
Chiếc hộp của Hạt Dẻ vẫn ở trong tủ.
Sau khi con gái tôi chào đời, tôi không cất nó sâu hơn. Cũng không đem hai đứa trẻ đặt cạnh nhau để so sánh điều mất và điều còn.
Con gái là một cuộc đời khác, được mong đợi bằng chính cái tên của con.
Hạt Dẻ vẫn là đứa trẻ tôi đã yêu trong một quãng đời rất ngắn.
Hai điều ấy có thể cùng tồn tại.
Máy bay hạ cánh lúc chạng vạng. Hoài An bế con đứng ở khu đón khách, trên vai có một chiếc kẹp tóc màu hồng không biết ai gài.
Con bé vừa nhìn thấy tôi đã vươn tay, gọi mẹ đến lạc giọng.
Tôi đón con, hôn lên đôi má mềm.
“Sao lại kẹp tóc cho bố?”
Con bé cười khanh khách.
“Đẹp!”
Hoài An nhận vali của tôi, nói rất nghiêm túc:
“Anh không có quyền phản đối.”
Tôi bật cười, đi bên anh ra bãi xe.
Dọc đường, mẹ gọi hỏi đã đón được chưa. Con bé giành điện thoại, kể với bà ngoại rằng mẹ mang bánh về, bố có tóc đẹp và mình không hề buồn ngủ.
Nói xong chưa đầy năm phút, con đã ngủ trong ghế an toàn.
Tôi quay lại nhìn, kéo nhẹ chiếc chăn nhỏ.
Hoài An hạ giọng:
“Mệt không em?”
“Một chút.”
“Về anh hâm canh.
Mẹ bảo em chắc lại ăn qua loa ở sân bay.”
Tôi tựa đầu vào ghế, nhìn những ngọn đèn ngoài cửa kính.
Đã có một thời gian tôi nghĩ tình yêu là theo đuổi cho đến khi được quay đầu nhìn. Về sau lại nghĩ tình yêu là được ai đó theo đuổi đủ lâu, rồi mang lòng biết ơn đi làm câu trả lời.
Tôi đã nhầm, đã mất mát, đã đau đến mức tưởng mình không bao giờ dám bước thêm.
Nhưng cuộc đời không chỉ có những năm ấy.
Xe dừng trước nhà. Mưa đã nhỏ, đèn ngoài hiên sáng vàng. Mẹ mở cửa, ra hiệu chúng tôi nói khẽ để con bé ngủ tiếp.
Hoài An bế con vào trước. Tôi lấy túi, mở ô, đi những bước cuối qua sân.
Điện thoại rung trong túi áo.
Là tin nhắn của anh, gửi từ lúc ở bãi xe mà bây giờ tôi mới thấy.
“Đợi anh dưới mái che.
Anh mang ô ra.”
Tôi ngẩng lên.
Anh đã đặt con xuống và đang đi ngược trở ra, trên tay cầm chiếc ô thứ hai. Thấy tôi đứng ngay bậc cửa với chiếc ô của mình, anh khựng lại rồi cười.
“Anh quên em có mang.”
Tôi cũng cười, khép ô, đặt vào chiếc giá cạnh cửa.
“Em về rồi.”
Anh nghiêng người để tôi bước vào, đưa tay đỡ chiếc túi nặng trên vai.
“Ừ.
Về ăn cơm thôi.”
Tôi đi vào căn nhà còn thơm mùi canh nóng.
Phía sau, cánh cửa khép lại rất nhẹ.
Hết